PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HẢI LĂNG

       LỊCH SỬ TRƯỜNG MẦM NON HẢI THIỆN

Giai đoạn: 1977 – 2013 

       Chủ biên tập

Cô giáo : Phạm Thị Cẩm Tú

P.Bí thư chi bộ –  CTCĐ- P.Hiệu trưởng trường MN Hải Thiện

Hải Lăng – Quảng Trị

 

Hội đồng biên soạn

* Cô giáo: Phạm Thị cẩm Tú: P.BT Chi bộ- CTCĐ- P. Hiệu trưởng nhà trường

* Cùng các cô giáo: Đặng Thị Diệu Hiểu; Lê Thị Hiền; Lê Thị Như Ý; Lê Thị Hồng Loan; Phan Thị Cẩm Nhung; Võ Thị Hà;  Võ Thị Quỳnh Tương;  Lê Thị Yến

LỜI GIỚI THIỆU

Truyền thống của quê hương đặc biệt là truyền thống văn hóa, giáo dục là tài sản vô giá, là niềm tự hào của mỗi chúng ta, là nguồn năng lượng tinh thần to lớn tiếp sức cho mỗi thế hệ hôm nay và mai sau, tiếp tục bồi đắp và phát huy trong nền giáo dục và cách mạng trong giai đoạn mới.

Thực hiện Công văn số 1151 SGD/ĐT Quảng trị ngày 04.9.2012 về việc biên soạn lịch sử và xây dựng phòng truyền thống nhà trường. Công văn số 139/GD&ĐT, ngày 20.9.2012 của Phòng GD&ĐT Hải Lăng; Quyết định số 03/QĐ-MN, ngày 06 tháng 9 năm 2012 của trường MN Hải Thiện.

Ban giám hiệu trường MN Hải Thiện đã tổ chức sưu tầm và biên soạn cuốn “Lịch sử truyền thống nhà trường từ năm 1977 đến năm 2013”.

Trong quá trình tập hợp tư liệu. Ban giám hiệu nhà trường xin chân thành cám ơn sự chỉ đạo hướng dẫn đầy trách nhiệm và hiệu quả của thường vụ Đảng ủy xã Hải Thiện, Phòng GD - ĐT huyện Hải Lăng. Cảm ơn các cơ quan ban ngành, đơn vị, các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, các cán bộ lãnh đạo xã qua các thời kỳ, gần xa đã tích cực cộng tác giúp đỡ có hiệu quả và trách nhiệm về tư liệu, động viên về vật chất và tinh thần cho cuốn lịch sử truyền thống của nhà trường.

Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình sưu tầm, biên soạn với nhiều hình thức, đa dạng và phong phú, tranh thủ sự đóng gớp của các đồng chí lãnh đạo qua các thời kỳ, các cô giáo … . Nhưng do các sự kiện lịch sử, sự thay đổi khách quan diễn ra trên quê hương qua hơn 36 năm và liên quan đến nhiều nhân chứng, trong lúc thời gian biên soạn quá ngắn, năng lực còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu xót.

Chúng tôi kính mong và tiếp nhận những ý kiến đóng góp đầy tâm huyết và ý thức xây dựng của các đồng chí lãnh đạo, đặc biệt các cô giáo.

Rất mong quý bạn đọc thiện tâm góp ý, để lần tái bản được hoàn mỹ hơn.

                                                                         

                                                                                  T/M BGH      

                                                                     P. BT Chi bộ - P.Hiệu trưởng

                                                                            Phạm Thị Cẩm Tú

PHẦN I

 

 

 

LƯỢC SỬ VỀ ĐỊA PHƯƠNG

Chương I

 

MẢNH ĐẤT VÀ CON NGƯỜI

Như lịch sử lựa chọn, Trường Mầm non Hải Thiện, từ năm 1977, là nơi hội tụ, học tập, lưu dấu truyền thống, của con em xã Hải Thiện. Lần theo những nẻo đường ngang dọc đang mở rộng còn thơm mùi đấ mới tinh khôi, chúng tooi tìm về hai vùng quê thân thuộc mà hình ảnh, vẻ đẹp, sự tài hoa từ lâu đã thấm vào tâm can con người dung dị nơi đây. Mãi mãi sự thăng hoa ấy đã di vào từng pho sách, từng bài thơ, từng khúc ca dân gian, đằm thắm, nghĩa tình.

XÃ HẢI THIỆN

I.Điều kiện tự nhiên:

1. Địa hình:

Hải Thiện là một xã đồng bằng, địa hình chạy theo hướng thấp dần từ Bắc sang Nam tạo nên 2 dạng địa hình chính:

- Vùng cát: Địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là những cồn cát, nằm phía Bắc khu dân cư từ thôn 1 đến thôn 5, diện tích khoảng 433,80 ha, chiếm tỉ lệ 34%.

- Đồng bằng: Địa hình bằng phẳng, chiếm khoảng 66% diện tích tự nhiên, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.

2. Khí hậu, thủy văn:

Cũng như các địa phương khác trên địa bàn huyện Hải Lăng, xã Hải Thiện thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 9.

- Mùa khô: Nền nhiệt cao kết hợp với gió mùa Tây Nam khô nóng, độ ẩm luôn dưới 50%, làm thiếu nước, gây khô hạn ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp.

- Mùa mưa: Gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa và rét, gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.

- Nền nhiệt tương đối cao, trung bình từ 24 - 250, biên độ nhiệt khá lớn. Lượng mưa trung bình 2500 - 2700 mm, tập trung chủ yếu các tháng 9, 10, 11 thường gây lụt, ngập úng ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

3. Tài nguyên thiên nhiên:

3.1. Tài nguyên đất:

Toàn xã có 1.279,44 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, chủ yếu là 2 loại đất chính:

- Đất cát trắng: chủ yếu là những cồn cát, nằm phía Bắc khu dân cư từ thôn 1 đến thôn 5, diện tích khoảng 433,80 ha, chiếm tỉ lệ 34%. Đây là loại đất có độ phì nhiêu kém, độ giữ ẩm thấp, dễ bị rửa trôi, chủ yếu để trồng cây công nghiệp ngắn ngày.

- Đất phù sa: có tầng loang lổ, đất thịt nhẹ, cát pha và đất xám xanh trồng lúa nước, với tổng diện tích khoảng 455,50 ha, chiếm 35,6% diện tích tự nhiên. Loại đất này có đặc điểm là thành phần cơ giới nhẹ, độ phí nhiêu trung bình. Chế độ tưới tiêu chủ động, có thể trồng chuyên lúa, lúa màu, chuyên màu, cây công nghiệp ngắn ngày.

3.2. Tài nguyên nước:

- Địa bàn xã có nguồn nước mặt dồi dào, được cung cấp bởi hệ thống kênh mương nhỏ nối liền với sông Ô Giang, Ô Lâu đi qua xã và hệ thống ao hồ tự nhiên nhỏ. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất.

- Vùng rú cát có hồ Trén chứa lượng nước lớn giúp cho HTX một phần chủ động tưới nước cho cây lúa, cây màu ở vùng đất thượng đường 582 và vùng Trằm lớn.

- Nguồn nước ngầm: Tuy chưa có công trình nào nghiên cứu về trữ lượng và chất lượng nước ngầm, chưa qua khảo sát thực tế các giếng nước của người dân sâu từ 10 - 15m, cho thấy nguồn nước ngầm khá dồi dào, nhưng chất lượng kém và độ phèn khá cao.

3.3. Tài nguyên rừng:

Hải Thiện là xã có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, theo số liệu khảo sát năm 2011 là 433,8 ha, đa phần là rừng trồng sản xuất nguyên liệu. Diện tích này chủ yếu trồng các loại keo, tràm khoảng 366,8 ha. Ngoài ra, xã còn giữ được 67 ha rừng tự nhiên.

4. Vấn đề thiên tai:

Hải Thiện nằm trong vùng rốn lũ của Hải Lăng, hằng năm phải hứng chịu nhiều cơn bão mạnh, thời tiết khắc nghiệt đã gây tác động không nhỏ đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng, vật nuôi. Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi lại phát triển chưa mạnh. Do đó, mức thu nhập bình quân đầu người thường thấp.

II. Tình hình dân số:

- Năm 2011, dân số xã Hải Thiện là 4.058 người gồm 947 hộ. Tỉ lệ tăng dân số 5 năm qua hầu như chỉ có tăng về tự nhiên, tăng cơ học vẫn có nhưng không đáng kể.

- Các điểm dân cư của xã có 5 thôn (thôn 1, 2, 3, 4, 5) được xây dựng tương đối tập trung.

III. Truyền thống:

Vào khoảng đầu thế kỉ 16, theo khuyến khích của Triều đình nhà Trần, dân một số tỉnh từ Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa di cư vào Nam để lập nghiệp. Lúc bấy giờ Gia tộc họ Lê cùng các họ Tộc như họ Đặng, họ Bùi, cùng một số họ khác vào đây, khai hoang và lập Làng. Làng Cu Hoan là một làng cổ do ngài Lê Xuân Độ khai canh. Là con cháu dòng dõi gia đình Quý tộc của Triều đình nhà Lê.

Làng Câu Hoan hiện nay thuộc xã Hải Thiện (vì dân số đông nên chỉ một làng đã thành một xã). Làng có họ Lê là đông nhất (có 8 phái), sau đó là họ Đặng rồi đến các họ khác. Trong Làng có xây các nhà thờ họ, nhà chùa thờ Phật, đình làng rất uy nghi, tráng lệ.

Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Hải Thiện anh dũng bất khuất chống giặc, đã dập tan nhiều âm mưu của quân địch.

Nhớ mãi trong quá trình đi tìm tư liệu, chúng tôi đến tư gia khiêm tốn của Chủ tịch xã, anh Lê Văn Mỹ. Ngôi nhà nhỏ tinh tươm, quay hướng ra cách đồng  trãi màu xanh hút mắt, thật đẹp và yên bình. Sau khi chuyển ly nước chè xanh sóng sánh đến mê hoặc từ tay vợ anh sang mời khách, nghe tôi mở lời, đôi mắt anh bỗng nhìn xa xăm. Rồi với chất giọng tâm tình, nghèn nghẹn, đều đều anh rủ rỉ: Có nhiều trận đánh kiên cường lắm! Mà in đậm trong ký ức người dân nơi đây, là trận chống càn tại xóm Cháy, thôn Năm, Hải Thiện, 1966.

Hôm đó, vào khoảng 08 tháng 02 âm lịch. Nhằm ngăn cản cuộc hành quân của địch từ Hải Quế, Hải Dương lên huyện lỵ Hải Lăng, một trung đoàn của ta đã chốt chặn ở đây. Một trận chiến đấu không cân sức diễn ra. Chiến sự ác lắm. Bằng lòng quả cảm và sự che chở của nhân dân, ta đã hạn chế, chặn đứng bước tiến của chúng.

Điên cuồng, tàn ác, địch đã đốt phá xóm làng.

Cái tên xóm Cháy ra đời trong tang thương từ đó, như ghi dấu chứng tích tội ác quân thù.

* Kết thúc chiến tranh, xã Hải Thiện có:

- 110 người được ghi công liệt sĩ.

- 3 bà mẹ được Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

- 37 người được hưởng chính sách thương binh và bệnh binh.

- 70 người được Nhà nước tăng huân huy chương các loại.

Với công lao và nổ lực chung, năm 1974, Hải Thiện vinh dự được Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khen tặng.

XÃ HẢI THÀNH

I.Điều kiện tự nhiên:

1. Địa hình:

Hải Thành là một xã vùng trũng của huyện, cách thị trấn Hải Lăng khoảng 5km về phía Đông. Phía Bắc giáp xã Hải Quế, phóa Nam giáp xã Hải Hòa, Hải Tân. Phía Đông Nam giáp xã Hải Dương. Phía Tây và Tây Bắc giáp xã Hải Thọ và Hải Thiện.

2. Khí hậu, thủy văn:

Cũng như xã Hải Thiện, xã Hải Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt khắc nghiệt. Mùa nắng thì cháy da cháy thịt, khô hạn, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất. Mùa mưa thì trắng trời trắng đất, nước ngập khắp nơi, đi lại rất khó khăn, sản xuất kinh doanh đều đình đồn, ngưng trệ.

3. Tài nguyên thiên nhiên:

Toàn xã có diện tích khoảng 497,9ha. Trong đó, đất nông nghiệp 393,5ha, đất phi nông nghiệp 89,7ha, đất hoang đang khai phá 14,7ha.

II. Dân số, kinh tế, xã hội:

Hoạt động kinh tế truyền thống của làng Trung Đơn và Phước Điền chủ yếu là nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Làng Kim Sanh ngoài nông nghiệp còn có đánh bắt tôm cá trên sông nước...

III. Truyền thống:

Là một xã cách thành phố Huế về phía Bắc khoảng 55km, cách thành phố Đông Hà 28km, cách thị xã Quảng Trị 16km vào phía Nam.

Xã gồm 3 làng: Trung Đơn, Phước Điền và Kim Sanh. Hải Thành có một số đặc sản như sau: Gạo Phước Điền nổi tiếng trong và ngoài tỉnh Quảng Trị.

Ngoài ra, còn bánh lá gai Phước Điền, khô nỗ Trung Đơn (chỉ làm ngày Tết), cháo bánh canh cá lóc ruộng (cháo bột/cháo vạt giường) Phước Điền.

Có một điều thú vị, lâu nay người ta vẫn coi làng Diên Sanh là nơi nấu bánh canh ngon nhất tỉnh Quảng Trị. Nhưng có người lại cho 2 người nấu bánh canh được đánh giá ngon nhất từ trước đến giờ là O Tiềm, sinh ra với lớn ở làng Phước Điền, nấu bánh canh có tiếng ở Diên Sanh. Và, O Kế cũng sinh ra, lớn lên ở làng Phước Điền, nấu bánh canh được đánh giá là ngon nhất Đông Hà.

Hải Thành có tên trên bản đồ nhà Nguyễn khoảng đầu thế kỷ 19, hiện nay còn lưu giữ một vài truyền thống như lễ cúng thần hoàng, lễ chạp mã làng, chạp mà họ, lễ đua ghe...

Trong 3 làng chỉ có 2 làng có ruộng là Trung Đơn và Phước Điền và chỉ có 2 làng này đến nay vần còn tồn tại quan niệm gọi là: Trần - Hồ - Phan - Hoàng - Lý, còn làng Phước Điền gọi là Dương - Vương - Ngô - Huỳnh.

Cả 2 làng này đều có Chùa và Nhà thờ. Nhưng đến nay 2 Nhà thờ bị hư hại nặng do chiến tranh, chưa khắc phục được. Còn Chùa Trung Đơn và Chùa Phước Điền được xây dựng lại khang trang, uy nghiêm và cổ kính.

Trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, quân dân xã nhà đã dũng cảm đương đầu với bom đạn, đòn roi của kẻ thù, lập nhiều chiến công hiển hách, đẩy lùi nhiều trận càn quét của địch, góp phần vào chiến thắng chung vĩ đại của dân tộc.

* Kết thúc chiến tranh, xã Hải Thành có:

- 104 người được ghi công liệt sĩ.

- 5 bà mẹ được Nhà nước phong tặng và truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

- 23 người được hưởng chính sách thương binh và bệnh binh.

- 385 người được Nhà nước tăng huân huy chương các loại.

Từ sự hy sinh to lớn đó, xã được Nhà nước phong tặng Huân chương kháng chiến hạng 3.

KHÚC VĨ THANH

Sau ngày thống nhất đất nước, nhân dân Hải Thiện và Hải Thành dồn tâm lực, trí tuệ để tái thiết quê hương, hàn gắn vết thương, từ tro tàn, đổ nát, do chiến tranh để lại.

Trong công cuộc thực hiện đường lối đổi mới do Đảng, Nhà nước khởi xướng, lãnh đạo, hình ảnh quê hương từng bước thay đổi, ngày càng khang trang.

* Các thành tích đạt được của hai xã:

+ Đảng bộ nhiều năm được công nhận Đảng bộ trong sạch vững mạnh.

+ Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn luôn ổn định.

+ Các chính sách xã hội được triển khai, nhận sự đồng thuận cao trong cộng đồng.

+ Các trạm y tế được xây dựng khang trang, chăm sóc tốt sức khỏe cho người dân từ cơ sở.

+ Trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở được nâng cấp, xây dựng mới, từng bước đảm bảo quy chuẩn. Phổ cập THCS được ngành đánh giá cao.

+ Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ luôn là nơi tập hợp, cuốn hút, hoạt động có hiệu quả.

+ Hội nông dân thường xuyên triển khai khuyến nông, nhằm tăng năng suất và tăng giá trị thu nhập cho người lao động.

+ Hội Người cao tuổi, Họi Cựu chiến binh, Hội Chữ thập đỏ, Hội Khuyến học... luôn phát huy chức năng của mình, được cấp trên ghi nhận.

Với nỗ lực đó, nhân dân hai xã Hải Thành, Hải Thiện vinh dự được nhiều bằng khen của Đảng và Chính phủ.

Đây vừa là phát tiết của tinh hoa truyền thống trong quá khứ, lại vừa là tiền đề thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ về tương lai, trong đó có Giáo dục và Đào tạo.

 

Chương II

 

GIÁO DỤC VÀ TRUYỀN THỐNG

1. Đất và người Hải Lăng:

Theo sử sách ghi lại, vùng đất nghèo Hải Lăng không chỉ giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm. Con người nơi đây còn thể hiện những nổ lực phi thường, trước sự khắc nghiệt đeo đẳng của thiên nhiên để tồn tại. Những ca dao “Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng năm, thốn khốn tháng nạn...” cứ ám ảnh, day dứt khôn nguôi.

Nhưng cũng ngay từ trong đêm trường khốn khó mịt mờ và đói nghèo ấy, dân mình đã biết tay nắm tay, cố kết trong một cộng đồng thân ái mà ăn dặn nhau rằng:

“Chớ than phận khó ai ơi

Còn da lông mọc, còn chồi nẩy cây”.

Và không dừng lại ở đó, những “chồi nẩy cây” đã đơm hoa thơm, cho quả ngọt trong khuồn vườn tri thức.

Vào các khoa thi kén chọn hiền tài của Triều Đình, Bùi Dục Tài, người con ưu tú của dòng Ô Lâu, thi đỗ cao năm 1502 (thời vua Lê Hiển Tông); Nguyễn Đức Hoan, thi đỗ năm 1835 (thời vua Minh Mạng); Nguyễn Văn Hiển, thi đỗ năm 1847...

2. Hải Thiện:

Với Hải Thiện, một số những bậc Tiên liệt của Dòng Tộc, làng xã, không ít người từng lặn lội theo khoa cử, tham dự vào bộ máy chính quyền, cầm quân dẹp loạn, có công với dân với nước, thời phong kiến. Có nhiều vị đã thành đạt, có nhiều bằng cấp, chức vụ, tước vị.

Thủa ấy, những vị học giỏi đỗ cao trong các kì thi, được dân làng trân trọng đón rước khi về quê.

Làng Cu Hoan, xã Hải Thiện ngày trước là một làng quê nghèo xa kinh thành. Nhờ sự hiếu học, trong hội thi Hương năm Duy Tân thứ 9, tháng 7 ngày 11, có ông Lê Hiến Khả thi đỗ cao. Dân làng thường cung kính gọi là ông Tú Khả. Văn bằng vua trao cho ông, hiện Dòng Họ trọng vọng như báu vật, để răn dạy cháu con.

Đến năm Bảo Đại thứ 19, tháng 3 ngày 25, “Hàn lâm viện” cấp bằng Giáo sư cho ông Lê Hiến Khả.

Qua việc biên soạn cuốn Lịch sử của nhà trường, chúng tôi có một dịp may hiếm có, được tiếp cận những bằng cấp, chức vụ, tước vị của bậc tiền bối, thuộc nhánh 2 phái 8 họ Lê, lưu giữ cho đến ngày nay.

Sau ông Tú Khả có ông Đặng Bá Chuyên, học giỏi, tinh thông tiếng Pháp. Ông làm nghề dạy học (dạy tiếng Pháp). Ông mất sớm, khi chưa tròn 30 tuổi.

Sau này, Hải Thiện còn có các vị, học vấn uyên thâm nổi tiếng, không những trong nước mà cả thế giới biết như Giáo sư, tiến sĩ Lê Mạnh Thát; Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Bá Thừa...

Lê Mạnh Thát, sinh năm 1944. Năm 1959, ông vào Huế học tại trường. Ông có nhiều bằng tiến sĩ, biết trên 15 thứ tiếng.

Từ 1998 đến nay ông là giáo sư, Phó Viện trưởng - Viện nghiên cứu Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông còn giữ chức Chủ tịch IOC Phật giáo Liên Hiệp Quốc.

Theo chiều dài lịch sử, năng lực và truyền thống học vấn của con em Hải Thiện được tiếp sức bởi tiền nhân, ngày một thêm tỏa sáng.

Trong phạm vi này, chúng tôi xin liệt kê những tâm gương tiêu biểu:

Thầy Lê Xuân Quang (Thầy của thầy Lê Ngọc Sam).

Thầy Lê ĐÌnh Hiên (ông Trợ Hiên)

Thầy Lê Quí Chuyết (ông Giáo Thuyết)

Thầy Lê Văn Châu

Thầy Đặng Bá Đệ

Thầy Lê Văn Vãn

Thầy Lê Ngọc Sam

Thầy Lê Phán

Thầy Đặng Bá Ký

Thầy Đặng Bá Tăng

Thầy Đặng Bá Nước

Cô Đặng Thị Nghiêu

Thầy Bùi Châu

Thầy Lê Hai

Lớp sau này có Bùi Như Hải, tốt nghiệp cấp II Hải Thiện khóa 1991-1995, học lên rồi vào trường Sư phạm, hiện giảng dạy ở trường THPT Bùi Dục Tài. Hải cho biết vừa bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Ngữ văn, năm 2013, tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam ở Hà Nội.

Hậu nhân vẫn vững vàng tiếp bước. Nhiều con cháu trong làng ngày đêm chăm chỉ đèn sách, thi đỗ Tiến sĩ, Thạc sĩ, Cử nhân, Bác sĩ, Kỹ sư, Kiến trúc sư... đã và đang làm rạng danh cho gia đình, dòng họ, quê hương.

3. Hải Thành:

Một ngày đẹp trời nào đó, bạn hãy bỏ chút thời gian, ghé về nơi đây. Dù chăm chú xem đua ghe gay cấn hay nhâm nhi thưởng thức sản vật thú vị, bạn đều được nghe giọng nói hấp dẫn và ánh mắt nhìn ngọt lịm không đâu bằng.

Là vùng đất thơm xưa nay mệnh danh sinh dưỡng nhiều thiếu nữ đảm đang xinh đẹp. Không chỉ vậy, nơi đây xuất hiện không ít tri thức uyên thâm, tài cao, học rộng.

Sau khi chu du và thưởng lãm, bạn có thể cung kính đến thăm các bô lão, các họ tộc nơi đây, bạn sẽ được nghe nhiều câu chuyện về con cháu thành danh của họ, với niềm tự hào khôn tả của người kể.

Chúng tôi xin giới thiệu vài gương sáng tri thức tiêu biểu với lòng ngưỡng mộ tôn kính, xứng danh bậc Thầy:

- Thầy Hồ Ngọc Duẩn, Tiến sĩ Toán học.

- Thầy Hoàng Đức Đạt, Phó giáo sư, Tiến sĩ, nguyên là Hiệu trưởng trường Đại học Khoa học Huế, nay là Hội khoa học Tp HCM.

- Thầy Hoàng Văn Hiển: PGS, Tiến sĩ Hiện là Hiệu phó Trường Đại học Khoa học Huế.

- Thầy Dương Ngọc Dũng, nguyên là trưởng phòng Giáo dục Hải Lăng.

...

Hiện tại, hàng năm các họ tộc tổ chức quỹ khuyến học rất mạnh, như họ Hoàng, họ Lý... nhằm động viên, khích lệ con em trên con đường học vấn, noi gương tiền nhân.

Và các thế hệ hôm nay của xã nhà đã và đang viết tiếp những trang vàng chói lọi mà ông cha để lại.

NỀN MÓNG CHO NGÔI NHÀ GIÁO DỤC VỮNG CHẮC

 

“Ôn cố tri ân”. Ngược thời gian vọng về quá khứ hiển linh, với bề dày truyền thống trên nhiều phương diện của hai vùng đất Hải Thiện và Hải Thành là để tri ân và vững tâm, tự tin và có trách nhiệm, phát triển giáo dục ở hiện tại và tương lai.

PHẦN II

 

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRƯỜNG MN HẢI THIỆN

Chương I

TIỀN THÂN CỦA TRƯỜNG MN HẢI THIỆN

(1977- 2000)

I. HỢP TÁC XÃ THÀNH LẬP NHÀ TRẺ (1977- 1980)

Hải Thiện chúng ta là một trong những xã điển hình về phong trào MG-NT, lúc bấy giờ NT-MG do các HTX quản lý dưới vai trò lãnh, chỉ đạo của chi bộ, mỗi đội sản xuất có một nhà trẻ và cả xã có 5 trường MG, các HTX làm ăn theo quy mô lớn, vì vậy nhu cầu gửi con vào nhà trẻ, lớp MG là nhu cầu không thể thiếu đối với người lao động, số lượng trẻ huy động đến trường đạt tỷ lệ cao, nên đội ngủ giáo viên cũng phát triển mạnh ở cả hai HTX (ThiệnTây và Tiền phong Đông). Nhiều cán bộ, giáo viên của các thế hệ đi trước là điển hình tiên tiến trong phong trào phát triển của ngành học như cô giáo Lê Thị Nậm, Đặng Thị Đóa, Lê Thị Huệ, Lê Thị Vơ,....

Từ năm 1978 đến năm 1979, các lớp MG bắt đầu được thực hiện chương trình cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục, hai chuyên đề: Múa - hát và xây dựng CSVC trường lớp MG được triển khai khá tốt.

Những ngày đầu mới thành lập trường vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nhân dân  phải đóng góp từng cây tre, tấm tranh đề làm trường, bàn ghế tạm bợ. lúc bấy giờ trường có 13 nhóm lớp nằm rải rác trên 5 thôn, phòng học thô sơ, tạm bợ, chủ yếu là mượn nhà đội sản xuất, bàn ghế là những tấm băng gỗ, những tấm ri sắt chặt đôi làm bàn ghế, các thiết bị dạy học nghèo nàn, đội ngũ giáo viên chưa qua đào tạo, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Song phát huy truyền thống hiếu học của xã nhà và sự chỉ đạo sáng suốt của lãnh đạo Đảng, chính vì vậy mà hơn 30 năm trải qua bao thăng trầm gian khó trường vẫn giữ vững phong trào dạy và học, phát triển toàn diện để xây dựng quê hương, đào tạo cán bộ kinh tế, văn hóa và góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho quê hương Hải Thiện.

II/ NHÀ TRẺ MẪU GIÁO LÀ MỘT BỘ PHẬN CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC ( 1980 -1993):

Thời điểm này, Ủy ban CSBVBMTE tỉnh đã sát nhập vào Sở Giáo dục, Nhà trẻ và Mẫu giáo được hợp nhất làm một, tạo một bước phát triển mới cho hệ thống phát triển trước tuổi học và đó là lúc ngành Giáo dục Mầm non chính thức được công nhận là ngành học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó Nhà trẻ, Trường Mẫu giáo là đơn vị cơ sở của ngành Giáo dục Mầm non. Giáo viên của trường vẫn hưởng chế độ thóc theo 2 mùa vụ, Đông- Xuân và Hè Thu của Hợp tác xã

Năm 1990, huyện Hải Lăng được lập lại, Phòng GD&ĐT được thành lập, ngành học Mầm non được ghép với Tiểu học.

          Ngoài mỗi đội sản xuất một nhà trẻ, chúng ta đã xây dựng thêm được mỗi đội sản xuất một lớp mẫu giáo bằng sự quyết tâm vươn lên từ nội lực chính mình. Được sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền địa phương, sự đồng tình của nhân dân, đã huy động được đa số trẻ đến trường, và dần dần sắp xếp lại quy mô mạng lưới trường lớp, từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, tăng cường công tác phổ biến kiến thức cho các bậc phụ huynh, thực hiện XHH trong Giáo dục Mầm non. Với sự quan tâm bằng những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ngành học Mầm non đã có một bước bức phá quyết liệt vươn lên chính mình và đã thu được những kết quả đáng ghi nhận.Giai đoạn này vẫn còn thực hiện theo chương trình mẫu giáo cải tiến. Đến năm học 1990-1991 bắt đầu thực hiện chương trình cải cách. Thời gian này cô Đặng Thị Diệp làm Hiệu Trưởng, Cô Nguyễn Thị Loan làm chuyên trách MN.

Chương II

      TRƯỜNG MẦM NON HẢI THIỆN THỜI KỲ ĐỔI MỚI

(1994-2013)

I. Những năm đầu khó khăn (1994-2004)

Ngày 01 tháng 01 năm 1994, trong toàn huyện chỉ có 4 trường có Quyết định thành lập và có con dấu riêng đó là Trường MNHải Phú, Thương,Tân và Trường Mầm non Hải Thiện.

Trường có khuôn dấu riêng, hoạt động độc lập dưới sự quản lý của Phòng giáo dục. Toàn trường có 8 lớp với 150 cháu và 12 cán bộ giáo viên. Đồng chí Đặng Thị Diệp làm Hiệu trưởng. Đồng chí Trần Thị Thúy phụ trách chuyên môn.

          Có thể nói rằng sự hoạt động vô cùng khó khăn, mặc dù ban giám hiệu của  trường có kế hoạch chỉ đạo hoạt động riêng nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Trong điều kiện đó chủ yếu tập trung dạy tốt – học tốt, nâng cao chất lượng đại trà.

          Mọi cơ sở vật chất, trở ngại và khó khăn của buổi đầu xây trường, dựng lớp.

          Tuy trong điều kiện còn nhiều trở ngại nhưng trường MN Hải Thiện vẫn hoàn thành tốt những mục tiêu, nhiệm vụ của ngành giáo dục đề ra.

          Dần dà, kinh tế đi lên, chuẩn mới về cơ sở vật chất trong hệ thống giáo dục được ban hành. Đối chiếu, còn thiếu nhiều. Nhà trường và địa phương lại cùng nhau bàn bạc, tính toán, ưu tiên cho giáo dục.

II. Sự khởi sắc và đi lên của nhà trường (2004– 2013).

  1. Ngôi trường mới – Niềm tin mới.

Khắc phục những hạn chế của những năm về trước và ý thức được trách nhiệm của người làm nghề “ươm mầm”, Đến ngày 15 tháng 12  năm 2004, có quyết định của UBND huyện chuyển sang Trường Mầm non bán công HảiThiện và đến ngày 01/01/2011, trường có quyết định của UBND tỉnh chuyển từ trường Mầm non bán công sang trường công lập cùng với 99 trường trong toàn tỉnh. Kể từ khi thành lập cho đến nay, trường mầm non ngày càng phát triển và lớn mạnh không ngừng về mọi mặt từ khi có chỉ thị 161 của thủ tướng Tướng chính phủ và quyết định 45/2001 của bộ GD - ĐT ban hành quy chế xây dựng trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia vùng nông thôn, đây là một điểm sáng cho ngành học khó của trường mầm non  và cũng là động lực thúc đẩy lập đề án quyết tâm xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Qua 3 năm xây dựng (2009-2011) tháng 5/2011 trường được kiểm tra và công nhận đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2010-2015. Đến nay trường có 9 nhóm lớp, tổng số CBGV, NV: 21 đồng chí đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 68%, trường có 1 chi bộ Đảng hàng năm đều công nhận chi bộ xuất sắc, đạt trong sạch vững mạnh.

Từ năm học 2004 – 2005 đến tháng 02 năm học 2011-2012 do cô Đặng Thị Diệp làm hiệu trưởng bí thư Chi bộ trường, Cô Trần Thị Thúy làm hiệu phó kiêm chủ tịch công đoàn.

Quy mô trường có 8 đến 9 lớp, số lượng học sinh có từ 150 đến 180em.                                                                                                                                                                      

Từ tháng 3 năm học 2011-2012 cô Trần Thị Thúy chuyển lên công vào công tác tại trường MN Hải Hòa.

Lưu luyến chia tay một cô giáo nhiệt huyết, một quản lý mẫu mực, một con người toàn tâm toàn ý.

Cũng năm học ấy, hội đồng đón nhận Cô giáo Phạm Thị Cẩm Tú về làm Phó hiệu Trưởng kiêm chủ tịch công đoàn trường.

Và Một năm sau vào ngày 05 tháng 4 khi phải vĩnh biệt cô giáo Đặng Thị Diệp một nhà quản lý mẫu mực, một con người thiện chí. Bao ý tưởng còn giang dở, Cô ra đi đột ngột để lại bao nổi thương tiếc cho mọi người.

Theo chỉ định của Phòng Giáo dục Hải Lăng, Cô Phạm Thị Cẩm Tú, Hiệu phó nhà trường đảm trách công việc quản lý.

Là một cô giáo trẻ, tài hoa, nhiệt tình, nhanh nhẹn tháo vát trong công việc. Cô tiếp tục dồn tâm lực cho hoạt động của nhà trường.

Hội đồng lại nắm tay nhau trong một khối đoàn kết nhất trí cao, đồng thuận trước những quyết sách nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, bắt kịp nhịp đi của các trường bạn, tìm hướng mới để vượt tốp, đáp ứng kỳ vọng của địa phương cũng như yêu cầu của ngành.

2. Những kết quả đạt được ( 2005 – 2013).

Nhận thức rõ vì thế và uy tín trong sự nghiệp giáo dục xã nhà, nhà trường luôn giử vững và nâng cao chất lượng các mặt hoạt động, bám sát chủ đề từng năm học để có kế hoạch chỉ đạo thực sự có hiệu quả. Nhà trường thường xuyên chú trọng việc tuyên truyền giáo dục trong cán bộ giáo viên và học sinh ý thức thực hiện nghiêm túc pháp luật, điều lệ nhà trường.

Từ năm học 2005 – 2006 trường sôi nổi hưởng ứng thực hiện cuộc vận động “ học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “ 2 không” trong ngành giáo dục, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

* Trong những thành tựu đạt được tập thể sư phạm nhà trường đã đóng góp không nhỏ, đóng vai trò chủ lực, xứng đáng là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, gắn bó với nhà trường, coi trường là nhà, tâm huyết với nghề nghiệp, biết hi sinh vì sự lớn mạnh của nhà trường,luôn quan tâm thương yêu học sinh. Nổi bật trong đội ngũ là: Cô Võ Thị Hà, Cô Phan Thị Cẩm Nhung, Cô Lê Thị Hồng Loan, Cô Lê Thị Yến,  … và nhiều cô khác. Nhiều cô giáo là hạt nhân của khối đoàn kết nhất trí trong tập thể sư phạm bằng sự phấn đấu vươn lên trong chuyên môn trở thành những giáo viên dạy giỏi như Cô Võ Thị Hà, cô Đặng thị Liên, cô Yến, cô Ý, …

Bên cạnh các cô lớn tuổi trong hàng ngũ giáo viên trẻ có nhiều cô bằng niềm say mê, ý thức vươn lên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn. Hàng năm có từ 2 đến 3 cán bộ giáo viên được đi học đào tạo nâng cao trình độ: cô Loan, cô Nhung, cô Liên, Cô Hạnh… cho đến hiện tại năm 2013 tỉ lệ giáo viên cán bộ đạt trên chuẩn 86%. Đội ngũ giáo viên dạy giỏi, giáo viên giỏi cấp huyện, tỉnh hàng năm đều được phát huy: Năm 2005 có 4 giáo viên dạy giỏi huyện, đến những năm học 2009 đến nay luôn duy trì 6 đến 7 giáo viên dạy giỏi huyện.

Với những nổ lực của cán bộ giáo viên trong việc xây dựng đơn vị văn hóa – gia đình văn hóa. Năm 2006 trường được công nhận đơn vị văn hóa. Trong những năm đổi mới của nhà trường, nhà trường vô cùng cảm động và lưu luyến chia tay với các cô giáo đã gắn bó với trường trong những năm tháng gian khó sau chiến tranh lần lượt nghĩ hưu theo chế độ. Thế hệ cán bộ giáo viên học sinh của nhà trường hôm nay luôn tri ân sự đóng góp công sức tâm huyết nghề nghiệp, đóng góp lớn lao cho sự nghiệp phát triển giáo dục của xã Hải Thiện. Những cống hiến của cô giáo trong sự nghiệp giáo dục của xã Hải Thiện là những viên ngọc sáng, là hạt phù sa bồi đắp cho nhà trường phát triển đến hôm nay và là động lực, nguồn cổ vũ để lớp lớp cô trò các thể hệ mai sau viết tiếp truyền thống nhà trường.

Nhà trường nhiều năm liền đạt danh hiệu lao động tiên tiến cấp huyện. Tham gia các hội thi đạt kết quả. Đội ngũ giáo viên có ý thức nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng một cách thường xuyên, có hiệu quả đồ dùng dạy học, trang thiết bị sẵn, phục vụ cho công tác giảng dạy. Hằng năm có nhiều giáo viên đạt GVDG cấp huyện và cấp tỉnh.  

Các đoàn thể trong nhà trường có nhiều hoạt động thiết thực, phong trào thi đua hai tốt được phát động một cách sôi nổi, công tác xã hội hóa giáo dục trong nhà trường được đẩy mạnh đã góp phần vào công tác quản lí CSGD trẻ ngày càng tốt hơn.

* Công tác xây dựng cơ sở vật chất, quy mô lớp học, chất lượng đội ngũ và công tác xã hội:

- Về cơ sở vật chất:

          Khi mới hình thành chỉ là những nơi tạm bợ của các HTX, đa số là phòng cấp 4 xuống cấp trầm trọng, hơn nữa các khu vực này là nơi căn cứ quân sự của chế độ cũ để lại với vô vàn bom đạn và phế tích chiến tranh. Cho nên khi mới tiếp quản để làm trường học, thì hầu như không có gì, nhưng lại bộn bề mọi nỗi nhọc nhằn, khó khăn để đáp ứng cho công việc giảng dạy, học tập của nhà trường.

          Qua những năm tháng thăng trầm của lịch sử, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của ngành, của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, của phụ huynh học sinh, những người có tâm huyết với nhà trường và bằng sự nỗ lực không mệt mỏi của lãnh đạo nhà trường, các thế hệ cô giáo và các thế hệ học sinh nhà trường đã có những đổi thay rất lớn. Từ cơ sở trắng về cơ sở vật chất, nhà trường dần dần khắc phục khó khăn về vật liệu gỗ, xi măng, xây dựng được các nhà  trẻ tạm thời ở các đội sản xuất. Với suy nghĩ đúng đắn giáo dục phải đi trước một bước, giáo dục con người từ khi mới lọt lòng, Đảng uỷ và Uỷ ban nhân dân xã cùng với các hợp tác xã hết sức quan tâm tạo điều kiện cho cô giáo công tác tốt như tuyển chọn đào tạo giáo viên, tự xoay chạy nguyên vật liệu khai thác gỗ, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị bàn ghế, tủ, đồ chơi phục vụ cho việc nuôi dạy trẻ ngày một tốt hơn.

Vào năm 2002- 2003, Hội từ thiện Phật giáo tỉnh Quảng Trị hỗ trợ xây dựng nhà Mẫu giáo thôn 2; năm học 2004- 2005 xây dựng 1 phòng học,; năm học 2008- 2009, 2009-2010  xây dựng nhà bếp và mái che trường MN Hải Thiện thôn 2. Hiện nay bộ mặt của nhà trường được khang trang, môi trường xanh - sạch - đẹp với tổng diện tích là 1557m2, sân chơi bãi tập là 442m2; toàn trường gồm 9 phòng học, đầy đủ các phòng làm việc của khu hiệu bộ, các thiết bị, phương tiện hỗ trợ, nhà bếp...các phòng được sắp xếp gọn gàng, sạch đẹp, đạt chuẩn góp phần đổi mới phương pháp dạy học tương đối đầy đủ để phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và sinh hoạt của cô và trò.

- Về qui mô số lớp và học sinh:

          Lúc đầu mới hình thành chỉ có 5 lớp với số lượng khoảng vài chục cháu. Những năm 1990-1991 đến trước năm 2000 số lớp chỉ dao động từ 6 đến 7 lớp là tối đa với số lượng chưa quá 100 cháu cả toàn trường. Do điều kiện kinh tế của phụ huynh quá khó khăn, nên số lượng trẻ đến trường rất hạn chế, có những năm e rằng trường sẽ không tồn tại, vì lý do quy mô của một trường quá nhỏ. Những năm đó không riêng gì đối với trường mà nhìn chung nhiều trường, đặc biệt là ở vùng nông thôn thì cũng có hoàn cảnh tương tự như vậy.

          Khi mang tên trường Mầm non chính thức (năm 1994) có 8 lớp với 150 cháu và 12 cán bộ giáo viên, từ năm học 2000-2005, do trường lớp còn thiếu nên tỉ lệ đến lớp của hệ mầm non còn thấp (đạt khoảng 70%), tuy vậy số trẻ đến trường đều tăng qua các năm (năm 2000 chỉ có 6 lớp thì đến năm 2005 có 8 lớp với 178 cháu).

          Từ năm 2006-2007 đến nay trường luôn luôn duy trì được số lớp từ 8 đến 9 lớp với sĩ số bình quân hàng năm trên 150 cháu, bằng sự cố gắng của mình, sự nghiệp giáo dục của nhà trường đã có bước phát triển vượt bậc, phong trào xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, quy mô trường lớp đảm bảo cho việc dạy học, số lượng trẻ đến trường ổn định, tỉ lệ các cháu vào mẫu giáo đạt 90%, nhà trẻ đạt 27%; thực hiện tốt cuộc vận động "Hai không" của Bộ giáo dục và Đào tạo, chất lượng dạy và học không ngừng được nâng cao. Năm học 2012-2013 trường có 9 nhóm lớp với 180 cháu (trong đó: nhà trẻ là 2 lớp 2 độ tuổi từ 18-24; 24- 36 tháng với 56 cháu, mẫu giáo là 6 lớp với 124 cháu). Tổng số CBVC là 21 người (trong đó: cán bộ quản lý, nhân viên là 05 cô; giáo viên là 16 cô).

- Chất lượng giáo dục:

          Mặc dù là một trường cách xa huyện lỵ, cách trở do điều kiện địa lý, gặp không ít khó khăn, nhưng chất lượng giáo dục không thua kém các trường có điều kiện thuận lợi hơn, như tỉ lệ huy động các cháu bình quân hàng năm 92%.

          Trong nhiều năm học trường đã có số lượng cháu đạt bé khoẻ bé ngoan cao. Một bậc học khó khăn nhưng đã có nhiều giải pháp sáng tạo phù hợp với chuyển đổi cơ chế thị trường. Phát triển số lượng và coi trọng chất lượng nuôi dạy trẻ bằng việc triển khai các chuyên đề như: Vệ sinh dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, giáo dục lễ giáo, tạo hình âm nhạc, làm quen với văn học, chữ cái, làm quen với toán, MTXQ, lồng ghép vệ sinh cá nhân cho trẻ...

          Bên cạnh đó, nhà trường cũng tổ chức các hoạt động bề nổi để tạo sinh khí sôi nổi, vui tươi, lành mạnh. Bé vui với trung thu, bé thi hát dân ca, bé tham gia thể dục nhịp điệu...Những hoạt động này đã tác động lớn đến phụ huynh học sinh và các cấp chính quyền, lôi cuốn được nhiều tổ chức tham gia. Đây là cách làm hay thể hiện được sự chung tay góp sức của xã hội trong việc cùng nhà trường chăm sóc, giáo dục các cháu.

          Mỗi ngày đến lớp, các cháu được giáo viên trực tiếp đứng lớp tổ chức rất nhiều hoạt động. Hình thức chơi mà học, học mà chơi đã kích thích hứng thú cho các cháu. Qua các chuyện kể, các cháu biết phân biệt cái thiện, cái ác và dần dần hình thành được cho mình những kĩ năng cơ bản trong cuộc sống.

          Phong trào văn hoá, văn nghệ là mặt mạnh của trường, luôn đạt giải cao trong các cuộc thi dành cho khối Mầm non trong toàn huyện Hải Lăng. Nhiều năm liền nhà trường vinh dự được UBND huyện, Phòng GD&ĐT Hải Lăng tặng giấy khen.

          Nhiều học sinh cũ của trường, nay đã có học hàm, học vị cao, còn nhiều học sinh đang nghiên cứu sinh trong và ngoài nước, hàng chục học sinh đã có bằng thạc sĩ, hàng trăm học sinh có bằng đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp. Nhiều học sinh hiện nay đang giữ vai trò chủ chốt trong các cơ quan Đảng, chính quyền các cấp, các ngành. Đặc biệt một số học sinh cũ của trường bây giờ là giáo viên công tác tại trường- nơi mình từng học tập thời thơ ấu- tiếp tục làm người lái đò dìu dắt các thế hệ tiếp theo.

- Về chất lượng đội ngũ:

Những năm gần đây, giáo dục mầm non đã được coi là nơi làm nền tảng của nhân cách con người, xã hội và ngành Giáo dục đòi hỏi cao hơn ở những cô giáo mầm non.

          Với đội ngũ CB-GV của trường qua bao thế hệ đều có tay nghề vững vàng, tận tâm, tận lực với học sinh, luôn yêu nghề, mến trẻ, những năm tháng trong quá khứ có lúc lắm nỗi khó khăn, tưởng chừng có người không vượt qua được, nhưng họ đã biết vượt lên trên hoàn cảnh của đời thường, với bao bề bộn lo toan trong cuộc sống, để miệt mài nghiêng mình trên từng trang giáo án, quyết tâm đứng vững trên bục giảng, ai ai cũng chỉ vì một mục tiêu “Tất cả vì học sinh thân yêu của chúng ta”.

          Công tác bồi dưỡng đội ngũ được quan tâm đúng mức, số lượng và chất lượng ngày càng đầy đủ và đồng bộ hơn, có ý thức tự giác, đoàn kết, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác chuyên môn cũng như các công tác khác.

Các cô tích cực tham gia thi GVDG cấp huyện thường xuyên và cô nào xuất sắc được chọn đi thi GVDG cấp tỉnh. Tổ chức thi ĐDDH tự làm, khám sức khỏe định kỳ cho các cháu 2 lần/ năm, được theo dõi qua biểu đồ tăng trưởng. Tổ chức hội thi tuyên truyền viên giỏi. Nhiều giáo viên đã tham gia học bằng A,B tin học để sử dụng phần mềm Kidsmart trong giảng dạy. Triển khai thực hiện nghiêm túc đổi mới chương trình giáo dục mầm non. Các điều kiện như trường lớp, đồ dùng đồ chơi được tăng cường nên việc chăm sóc và giảng dạy cho trẻ có nhiều chuyển biến. Chất lượng nuôi dạy trẻ ngày càng được nâng cao. Bên cạnh việc đầu tư về chuyên môn, nhà trường đã chăm lo nâng cao về giáo dục sức khỏe, dinh dưỡng, vệ sinh ATTP, giáo dục môi trường, an toàn giao thông, giáo dục kĩ năng sống cho các cháu.

Có tận mắt chứng kiến mới thấy hết những khó khăn vất vả của các cô. Từ người lãnh đạo cho đến giáo viên trực tiếp đứng lớp và giáo viên dinh dưỡng đều tất bật cả ngày. Một ngày của các cô giáo mầm non thường từ 6h30-7h sáng, khởi đầu bằng vệ sinh phòng học. Rồi đến đón trẻ, 8h15 chuyển sang hoạt động  thể dục, rồi học bài theo chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 10h30 các cô kê dọn bàn ghế, bê cơm cho bữa trưa. Nếu có trẻ nôn ói các cô phải lau sàn, vệ sinh cho trẻ, giặt giũ, ít nhất cũng 30 phút. 2 tiếng ngủ trưa của trẻ, các cô tranh thủ làm dụng cụ học tập vì gần như tất cả học phẩm trong trường mầm non đều là “cây nhà lá vườn”.

3 tiếng còn lại của buổi chiều, cô vừa phải giúp trẻ ôn lại bài học buổi sáng, vừa cho trẻ ăn bữa phụ. Sát giờ về thì chải tóc cho từng cháu, cho trẻ đi vệ sinh rồi lau chùi phòng học, dọn toilet, kê lại bàn ghế, thu gom đồ chơi. 16-16h30 trả trẻ nhưng nhiều cha mẹ gần 6h mới tói đón. Chỉ đến khi các con đã về thì cô mới được tan làm.

Sự cống hiến của đội ngũ cô giáo càng làm cho các cấp uỷ, chính quyền địa phương, các bậc phụ huynh học sinh ghi nhớ, trân trọng mãi mãi. Hàng năm có khoảng 5 cán bộ giáo viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua, giáo viên giỏi cấp tỉnh, cấp cơ sở. Nhiều cô giáo không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có 4 giáo viên đã học xong đại học.

Trong chặng đường hình thành, phát triển và trưởng thành. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền xã Hải Thiện, phòng Giáo dục & Đào tạo Hải Thiện, các thế hệ giáo viên đã vượt lên những thử thách, khó khăn mà trưởng thành.

Qua  hơn 36 năm hình thành và phát triển. Hiện nay, trường có 21 cán bộ, giáo viên và nhân viên đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn theo quy định. Nhìn chung đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên đủ bề dày kinh nghiệm để đảm đương nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

- Đối với các tổ chức chính trị, đoàn thể của nhà trường:

          * Chi bộ: luôn luôn đạt chi bộ trong sạch, vững mạnh trong nhiều năm liền.

          * Công đoàn: Nhiều năm liền được BCH Công đoàn giáo dục huyện Hải Lăng chứng nhận là Công đoàn cơ sở đạt danh hiệu vững mạnh xuất sắc.

          * Chi đoàn: Liên tục đạt danh hiệu vững mạnh, nhiều năm được các tổ chức tặng cờ và giấy khen trong các cuộc thi.

THAY LỜI KẾT

Trong chặng đường gần nửa thế kỷ hình thành, phát triển và trưởng thành. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền xã Hải Thiện, phòng Giáo dục & Đào tạo Hải Lăng, các thế hệ giáo viên đã vượt lên những thử thách, khó khăn mà trưởng thành.

Dựng lại lịch sử của nhà trường là cả một quá trình nghiêm túc, công phu, dài lâu và có chuyên môn.

Trong quá trình biên soạn, chúng tôi may mắn nhận được nhiều sự hổ trợ từ phòng GD&ĐT; Nhận được việc cung cấp tư liệu, hình ảnh cùng những lời động viên, khuyến khích của đồng nghiệp và cán bộ địa phương.

Song, thiết nghĩ những trang chữ, công lao, thành tích, câu chuyện và những hình ảnh viết trên đây vẫn chưa là chưa đủ. Mặt khác người viết chưa có điều kiện kiểm chứng hết và là đội ngũ trẻ, vì vậy rất có nhiều chỗ cần bổ khuyết.

Rất mong được cung cấp thêm với tâm can cầu thị.

Trân trọng cám ơn.